3.50 Tại sao chúng ta được sai đi vào cuối lễ?

 3.50 Tại sao chúng ta được sai đi vào cuối lễ?

Vào cuối Thánh lễ, vị phó tế hay Linh mục nói: “Thánh lễ đã xong, chúc anh chị em đi bình an”. Trong tiếng La tinh là “Ite, missa est”, là nguồn gốc của từ Thánh lễ (từ missa) (xem 3.44). Câu cuối cùng này chứa đựng toàn bộ ý nghĩa của đời sống Kitô hữu.

# Nghi thức sai đi
Sau khi chúng ta gặp gỡ chính Đức Giêsu trong Thánh lễ, trong Lời Ngài và trong Mình và Máu Ngài (xem 3.45-3.49), chúng ta được sai đi vào thế giới với Ngài. Đức Giêsu cũng sai các môn đệ đi như vậy: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15).
Trong đời sống thường ngày, chúng ta sống những gì chúng ta đã lãnh nhận; chúng ta trở nên chính Chúa Giêsu đối với mọi người chúng ta gặp. Chúng ta bắt đầu bằng việc muốn phục vụ Đức Kitô trong mỗi giây phút của cuộc đời mình, mở ra với nhu cầu của những người xung quanh và ao ước chia sẻ
với họ những điều chúng ta có. Chúng ta gọi việc phục vụ người khác này là bác ái (xem 4.7).

# Là Kitô hữu suốt ngày đêm
Việc rước Mình và Máu Chúa Giêsu chỉ có ý nghĩa khi điều này có thể biến đổi chúng ta, nghĩa là làm
cho chúng ta trở nên giống Chúa Kitô hơn. Chúng ta không phải là Kitô hữu trong một giờ ngày Chúa
Nhật nhưng 24 giờ trong một ngày, 7 ngày trong một tuần. Khi chúng ta mang Đức Kitô vào trong  đời sống mình là chúng ta mang Ngài vào trong gia đình mình, hàng xóm, lớp học, nơi làm việc. Cảm nghiệm tình yêu thương xót và biến đổi của Thiên Chúa trong đời mình, các Kitô hữu trở nên dấu chỉ của niềm hy vọng cho người khác, đặc biệt khi họ đến với người nghèo khổ, đói khát, buồn bã, bệnh tật hay bị bắt bớ. Ơn gọi của mỗi Kitô hữu là dâng hiến chính mình cho Chúa Giêsu (xem 4.4) để trở nên chứng nhân cho tình yêu Chúa, không chỉ cho chính mình nhưng cho mỗi người. Cho đến ngày nay, các Kitô hữu qua bao thời đại đã liều mất mạng sống mình để trung thành với ơn gọi này (xem trong khung).

# Amen
Tương tự như quyển sách cuối cùng của Kinh Thánh, lời nguyện Thánh Thể kết thúc với chữ “Amen” (xem Kh 22, 21). Qua lời này, chúng ta dự phần cùng với mọi tín hữu trong lời cầu nguyện mà vị linh mục đã đại diện toàn thể cộng đoàn dâng lên Thiên Chúa. Nguồn gốc tiếng Do Thái của từ này có nghĩa “đã định” hay “chắc chắn”. Lời công bố trong tiếng Hy Lạp có nghĩa “cứ như vậy” hay “thật sự”. Vì vậy cuối lời cầu nguyện chúng ta nói “Amen” để nói lên “Vâng, cứ như vậy, cho vinh quang Thiên Chúa” (xem 2Cr 1, 20; GLHTCG 1065). Một ví dụ điển hình là từ “Amen” ở cuối Kinh Tin Kính có ý muốn nhắc đến hai từ đầu tiên “Tôi tin” (GLHTCG 1064) .

Nếu chúng ta thật sự tin vào các lời nói, các lời hứa và các điều răn của Thiên Chúa, chúng ta cũng
muốn hết lòng công nhận chúng. Vì thế, toàn bộ đời sống chúng ta phải là tiếng “Amen” để đáp lại tình
yêu và sự chung thủy của Thiên Chúa. Sau Thánh lễ, chúng ta đi trong bình an của Đức Kitô để giúp những ai đang cần và để công bố Tin Mừng.

Chống lại bất công
Một linh mục dòng Cát Minh, người Hà Lan Titus Brandsma (†1942) là một giáo sư tại trường đại học Nijmegen. Trong những năm trước Thế chiến II, ngài đã lên tiếng rõ ràng chống lại hiểm họa của chủ nghĩa phát xít Đức và chống lại sự thù hận chủng tộc. Như là một bản sao, ngài đã nói về “chủ nghĩa anh hùng không được biết đến” của một người đàn ông kính trọng Đức Kitô nơi người khác bằng lời cầu nguyện và sự giúp đỡ: “Đừng yêu cầu. Đừng nhìn lại. Đừng xét đoán. Chỉ giúp đỡ”. Ngài đã kiên quyết giữ vững những lời này trong những năm kế tiếp. Để đáp lại sự chiếm đóng của Đức ở Hà Lan, các giám mục Hà Lan đã lên án chủ nghĩa phát xít Đức và cấm người Công Giáo tham gia vào các tổ chức có liên quan đến Phát xít Đức.
Năm 1942, với vai trò là cố vấn cho các phóng viên Công Giáo, cha Titus đã gửi một lá thư đến các giám đốc và biên tập viên của tạp chí Công Giáo. Bức thư nói rằng không một ấn phẩm Công Giáo nào được có những quảng cáo hay bài viết liên quan đến việc cấu kết với phát xít Đức. Được các giám mục ủng hộ, cha Titus phân phát thư cá nhân và giải thích điều này cho những người nhận. Bất chấp những cảnh báo rằng cha đang bị theo dõi bởi những kẻ xâm lược, cha tiếp tục nỗ lực bởi vì cha biết việc chống lại chủ nghĩa phát xít Đức rất quan trọng.
Vào ngày 19/1, cha Titus bị bắt và bị đưa đến nhà tù ở Scheveningen, Hà Lan. Tháng 6 cùng năm, cha bị đưa đến trại tập trung Dachau, nơi đây cha có ảnh hưởng đặc biệt trên các tù nhân khác nhờ vào sự trung thành của cha với ơn gọi linh mục của mình. Nhiều người cảm thấy được an ủi và động viên nhờ lời và mẫu gương của cha. Chân phước Titus Brandsma bị giết vào ngày 26/7/1942.

Đọc thêm: 
Amen: GLHTCG 1061-1065; TYGLHTCG 217; YOUCAT 165. Truyền giảng Tin Mừng: GLHTCG 425-429; TYGLHTCG 80