3.25 Những cử chỉ, dấu chỉ và màu sắc có ý nghĩa gì?
Trong phụng vụ, chúng ta có nhiều tư thế khác nhau và những tư thế này thể hiện điều chúng ta muốn nói (xem 3.24).
# Đứng, cúi đầu và ngồi
• Đứng là tư thế cầu nguyện từ thời các tín hữu sơ khai như là dấu chỉ tượng trưng của sự phục sinh. Vì thế chúng ta đứng khi đọc một số lời cầu nguyện quan trọng nhất của phụng vụ. Để tỏ lòng tôn trọng Tin Mừng, chúng ta đứng khi công bố Tin Mừng.
• Cúi đầu là cách khác để thể hiện sự tôn trọng. Chúng ta hơi cúi đầu khi đọc tên Đức Giêsu (và tên Mẹ Maria hay một vị thánh). Nếu chúng ta không quỳ gối khi rước lễ thì trước đó chúng ta cúi đầu sâu (hay bái gối). Linh mục và những người phụ tá cúi đầu trước bàn thờ mỗi khi họ đi ngang qua. Chúng ta cũng cúi đầu trước bàn thờ khi chúng ta đi vào nhà thờ không đặt nhà tạm ở trung tâm (xem 3.20).
• Ngồi là tư thế thể hiện bình an. Chúng ta lắng nghe bài đọc một cách thinh lặng và chú tâm. Chúng ta có thể cầu nguyện khi ngồi hay với bất kỳ tư thế nào.
• Quỳ gối là tư thế cổ điển cho cầu nguyện cá nhân và thờ phượng Thiên Chúa. Như ba nhà thông thái bái lạy hài nhi Giêsu ở Bêlem, bạn cũng có thể hạ mình trước Đức Giêsu (xem Mt 2, 11). Ở những phần quan trọng trong Thánh lễ, chúng ta quỳ trước Chúa Giêsu Thánh Thể.
• Nằm sấp mặt xuống đất hay phủ phục là dấu chỉ của sự dâng mình hoàn toàn cho Thiên Chúa. Vào thứ Sáu tuần Thánh, vị linh mục phủ phục trước bàn thờ (xem 3.31). Và trong nghi thức thụ phong (xem 3.41), các ứng viên nằm sấp mặt xuống đất trong khi giáo dân cầu xin các thánh cầu nguyện cho họ.
# Bàn tay
Chúng ta có thể diễn tả rất nhiều điều với đôi tay. Khi cầu nguyện, chúng ta chắp tay: chúng ta không dùng chúng cho bất kỳ việc gì khác mà hoàn toàn tập trung vào Chúa. Các tín hữu sơ khai thường cầu nguyện với tư thế đứng và hai bàn tay mở rộng như Trong phụng vụ, chúng ta có nhiều tư thế khác nhau và những tư thế này thể hiện điều chúng ta muốn nói (xem 3.24).
# Đứng, cúi đầu và ngồi
• Đứng là tư thế cầu nguyện từ thời các tín hữu sơ khai như là dấu chỉ tượng trưng của sự phục sinh. Vì thế chúng ta đứng khi đọc một số lời cầu nguyện quan trọng nhất của phụng vụ. Để tỏ lòng tôn trọng Tin Mừng, chúng ta đứng khi công bố Tin Mừng.
• Cúi đầu là cách khác để thể hiện sự tôn trọng. Chúng ta hơi cúi đầu khi đọc tên Đức Giêsu (và tên Mẹ Maria hay một vị thánh). Nếu chúng ta không quỳ gối khi rước lễ thì trước đó chúng ta cúi đầu sâu (hay bái gối). Linh mục và những người phụ tá cúi đầu trước bàn thờ mỗi khi họ đi ngang qua. Chúng ta cũng cúi đầu trước bàn thờ khi chúng ta đi vào nhà thờ không đặt nhà tạm ở trung tâm (xem 3.20).
• Ngồi là tư thế thể hiện bình an. Chúng ta lắng nghe bài đọc một cách thinh lặng và chú tâm. Chúng ta có thể cầu nguyện khi ngồi hay với bất kỳ tư thế nào.
• Quỳ gối là tư thế cổ điển cho cầu nguyện cá nhân và thờ phượng Thiên Chúa. Như ba nhà thông thái bái lạy hài nhi Giêsu ở Bêlem, bạn cũng có thể hạ mình trước Đức Giêsu (xem Mt 2, 11). Ở những phần quan trọng trong Thánh lễ, chúng ta quỳ trước Chúa Giêsu Thánh Thể.
• Nằm sấp mặt xuống đất hay phủ phục là dấu chỉ của sự dâng mình hoàn toàn cho Thiên Chúa. Vào thứ Sáu tuần Thánh, vị linh mục phủ phục trước bàn thờ (xem 3.31). Và trong nghi thức thụ phong (xem 3.41), các ứng viên nằm sấp mặt xuống đất trong khi giáo dân cầu xin các thánh cầu nguyện cho họ.
# Bàn tay
Chúng ta có thể diễn tả rất nhiều điều với đôi tay. Khi cầu nguyện, chúng ta chắp tay: chúng ta không
dùng chúng cho bất kỳ việc gì khác mà hoàn toàn tập trung vào Chúa. Các tín hữu sơ khai thường cầu
nguyện với tư thế đứng và hai bàn tay mở rộng như là dấu chỉ rằng họ sẵn sàng để nhận ơn Chúa (xem
4.12) và họ trắng tay trước Ngài. Đây là tư thế của linh mục khi ngài thay mặt cộng đoàn cầu nguyện.
Khi linh mục cầu khẩn sự chúc lành của Chúa, ngài đặt tay trên một người hay đồ vật; đó là dấu chỉ
ngài đang cầu xin Chúa Thánh Thần (xem 1.31).
# Các cử chỉ
Chúng ta làm dấu thánh giá khi bắt đầu và kết thúc giờ cầu nguyện: chúng ta xin Chúa Ba Ngôi (xem 1.33) ở với chúng ta và giúp chúng ta. Khi Tin Mừng được công bố, chúng ta làm dấu thánh giá với ngón tay cái trên trán, trên môi và trên trái tim. Không nói ra thành lời nhưng chúng ta xin để hiểu Lời Chúa, nói Lời Chúa và giữ Lời Chúa trong lòng.
Cái hôn mang tính phụng vụ là dấu chỉ của sự tôn trọng. Linh mục hôn bàn thánh vì nó tượng trưng chính Đức Giêsu. Cũng với ý nghĩa ấy, ngài hôn Tin Mừng sau khi công bố. Chúng ta hôn thánh tích vào những thời điểm nhất định để tôn kính các thánh và hôn chân Đức Giêsu trên thánh giá vào thứ Sáu tuần Thánh (xem 3.31)
| Các màu phụng vụ là gì? Trong những dịp lễ khác nhau của Hội Thánh, các màu khác nhau được dùng cho lễ phục của hàng giáo phẩm và không gian phụng vụ. Các màu phụng vụ này liên quan đến lý do chúng ta quy tụ lúc đó (xem 3.26). • Màu trắng là màu của ánh sáng, tinh khiết và vinh quang. Nó được sử dụng cho những ngày lễ mừng (Giáng Sinh, Phục Sinh và lễ bổn mạng một số thánh). Đôi khi màu vàng hay bạc tượng trưng cho vinh quang và niềm vui được sử dụng thay cho màu trắng. • Màu đỏ tượng trưng cho ngọn lửa của Chúa Thánh Thần (lễ Ngũ Tuần), máu (thứ Sáu tuần Thánh), và tình yêu của Thiên Chúa. Màu đỏ cũng được mặc vào ngày lễ của các thánh tử đạo là những người đã bị giết chết vì đức tin vào Đức Kitô. • Màu tím là màu của sự ăn năn và sự chuẩn bị trong mùa Vọng và mùa Chay (xem 3.28-3.29). Màu tím cũng thường được sử dụng trong lễ tang và ngày lễ các linh hồn. • Màu đen là màu của tang tóc có thể được sử dụng trong lễ an táng và ngày lễ các linh hồn (xem 3.27). • Màu xanh lá tượng trưng cho sự sống và sự lớn lên trong Thiên Chúa; được sử dụng cho các Thánh lễ khác trong năm (xem 3.27).
|

Đọc thêm:
Dấu chỉ và biểu tượng: CCC 1145-1152, 1189; CCCC 236-237; YOUCAT 181. Cử chỉ: YOUCAT 486.

