2.38 Hậu quả của Phong trào Cải Cách là gì?
Những nhà cầm quyền của Đức và những nhà lãnh đạo địa phương thấy tư tưởng của Luther là một cơ hội tốt để nổi lên chống lại giáo hoàng và ảnh hưởng của ngài, cụ thể là việc hạn chế vai trò của họ trong việc bổ nhiệm giám mục. Ở những nơi khác cũng vậy, Phong trào Cải Cách có những ẩn ý chính trị (xem 2.36).
# Hà Lan (Low Countries)
Đó là trường hợp ở Hà Lan. Chính quyền quốc gia nằm trong tay vua Philip II, vua Tây Ban Nha, người bách hại những ai ủng hộ Phong trào Cải Cách. Điều này ngày càng làm cho mối quan hệ giữa người Công Giáo và tín đồ Canvin trở nên gay gắt. Ngay sau đó, cuộc đấu tranh hợp pháp chống lại luật và chính sách thuế của vua Philip đã biến thành cuộc bài trừ Hội Thánh cách phi lý. Năm 1566, đám đông cuồng nhiệt đã tấn công nhà thờ để phá hủy các tượng ảnh. Vua Philip II gửi Công tước của Alva đến khôi phục lại trật tự. Alva không thương tiếc giáng đòn xuống trên những người “dị giáo Canvin”. Năm 1568 William Orange dẫn đầu một cuộc nổi dậy chống lại chính sách tàn bạo và việc đóng thêm thuế của vua Philip II. Từ đó bắt đầu cuộc Chiến tranh Tám Mươi Năm. Ngay sau đó đã dẫn đến một sự chia rẽ giữa miền Bắc và miền Nam Hà Lan. Ở phía bắc Cộng hoà Thất Kỳ Hà Lan, Canvin thắng. Nam Hà Lan vẫn duy trì Công Giáo và dưới sự cai trị của vua Philip II và người kế nhiệm ông.
# Các nước Bắc Âu
Ở các nước Bắc Âu cũng vậy, các sự kiện xung quanh Phong trào Cải Cách có một hậu cảnh chính trị và kinh tế. Trong suốt thế kỷ XVI, các vua chúa của các quốc gia phía bắc đón nhận thuyết Luther và tạo ra một Hội Thánh nhà nước từ đó. Giám mục bị lật đổ, linh mục bị đuổi bắt, và đan viện bị đóng cửa. Đáng chú ý là trong những năm sau đó, người Công Giáo bị áp bức tìm được nơi tị nạn có phần nhẹ nhàng hơn ở Hà Lan. Trong nhiều thế kỷ, pháp luật ở các nước Bắc Âu này không cho phép theo tôn giáo nào khác ngoài Tin Lành. Chỉ đến năm 1956, các linh mục dòng Tên được tái định cư ở Na Uy.
# Miền truyền giáo
Các giám mục địa phương thường không thể cai quản nổi mọi địa bàn, do vậy, giáo hoàng tuyên bố một số quốc gia khác nhau là miền truyền giáo. Hệ quả là một số miền trực thuộc Thánh Bộ Truyền bá Đức tin (Papal Congregation for the Propagation of the Faith) (xem 2.34), là nơi bổ nhiệm một đại diện tông toà, ví dụ như ở Hà Lan (1581) và Thụy Điển (1783). Tình trạng này kéo dài cho đến tận thế kỷ XIX (xem 2.44)
Các thánh tử đạo và những nhà thờ bí mật ở Hà Lan
Một số người Công Giáo dứt khoát không chấp nhận Phong trào Cải Cách. Tương tự như ở Anh (xem 2.39), tình hình tại Hà Lan đặc biệt ảm đạm. Canvin chinh phục nhiều thành phố thuộc Hà Lan từ vua Philip II của Tây Ban Nha, và sau đó thường tra tấn tàn nhẫn và giết chết người Công Giáo, đặc biệt là các giáo sĩ. Năm 1572, Gorcum bị những người theo Canvin chiếm đóng, họ bắt giam các giáo sĩ Công Giáo. Các linh mục trung thành với giáo hoàng và từ chối làm nhục Thánh Thể bị những người Tin Lành tra tấn và bị treo trong các chuồng gia súc. Tử thi của họ đã bị làm nhục và đầy thương tích và sau đó bị vùi chung trong cùng một hố. Có 19 vị tử đạo của Gorcum được giáo hoàng phong thánh vào năm 1867
(xem 4.17).
Tại Cộng hoà Liên hiệp Hà Lan, tất cả các nhà thờ Công Giáo đã bị phái Canvin tịch thu. Phụng tự Công Giáo bị cấm chính thức vào năm 1581 và người Công Giáo được kỳ vọng là sẽ chấp nhận thuyết Canvin. Tuy nhiên, nhiều người Công Giáo vẫn tiếp tục hành động bảo vệ niềm tin của họ; và do đó họ tạo ra các nhà thờ bí mật, nơi họ có thể cử hành Thánh Lễ cách kín đáo và nhận các Bí tích khác. Ban đầu, chính phủ phản đối kịch liệt các cộng đoàn ẩn núp này. Những thế kỷ sau đó, một cách không chính thức, chính quyền cho phép và khoan dung hơn, thường là sau khi các nhà thờ này nộp tiền phạt. Trong mọi trường hợp họ vẫn không được công nhận như là các nhà thờ. Để không làm phiền người Tin Lành, việc ca hát và đệm đàn không được phép được vang ra đường phố.
Đầu tiên, người Công Giáo quy tụ những ngôi nhà khang trang, và sau đó là những nhà ẩn kín, nhưng trang hoàng đẹp mắt, các nhà thờ ẩn phía đằng sau mặt tiền khó nhận ra, một số vẫn còn tồn tại cho tới ngày hôm nay.
Hội Thánh và nhà nước đã được chính thức phân tách từ năm 1796, nhưng phải mất nhiều năm sau đó người Công Giáo mới thực sự kinh nghiệm sự tự do để thực hành đức tin của họ. Rước kiệu và các hình thức diễn tả niềm tin Công Giáo nơi công cộng bị nghiêm cấm tại Cộng hoà này. Những hệ lụy xã hội của việc này ảnh hưởng lâu dài.
Ví dụ: mãi đến năm 1983 lệnh cấm rước kiệu của người Công Giáo mới được gỡ bỏ khỏi Hiến pháp. Ngay cả khi các cuộc bách hại tồi tệ nhất đã qua, người Công Giáo vẫn còn bị khinh thị và phân biệt đối xử nơi công cộng. Trong một thời gian dài người Công Giáo không được bầu chọn vào một số chức vụ công.



