2.26 Nguồn gốc của Hồi Giáo là gì?

 2.26 Nguồn gốc của Hồi Giáo là gì?

Từ Islam có nghĩa là “tùng phục”; một tín hữu Hồi Giáo theo nghĩa đen nghĩa là họ tùng phục Đấng Allah (tiếng Ả rập, nghĩa là “Thượng Đế”).
Vào thế kỷ thứ VII, Muhammad, một người Ả Rập đến từ Mecca, tuyên bố rằng ông nhận được những mặc khải từ Thượng Đế qua việc thiên thần Gabriel (Jibreel) đọc cho ông (Qur’an 53, 4.10.11). Sau cái
chết của Muhammad, những mặc khải này được tập hợp lại trong Kinh Koran (xem 1.14). Với tín đồ Hồi Giáo, Muhammad là ngôn sứ vĩ đại. Các ngôn sứ khác bao gồm Abraham, Môsê, và Giêsu (Isa).
Kinh Koran chịu ảnh hưởng bởi Kinh Thánh Do Thái Giáo, Kitô Giáo và những bản văn ngoại giáo.
Ngoài Kinh Koran, còn có những giải thích cho kinh Koran do Muhammad và những đồ đệ của ông viết ra, gọi là hadith. Luật Hồi Giáo, gọi là sharia, được soạn thảo từ Kinh Koran và hadith.
# Đức tin chiến đấu
Một số người Ả Rập ngưỡng mộ Muhammad, và muốn đi theo ông, nhưng sự chống đối từ những người khác đã khiến cho Muhammad phải trốn chạy đến Medina vào năm 622. Trong khi ở Medina,  Muhammad đã kêu gọi jihad (cuộc chiến) chống lại những người từ chối chấp nhận tôn giáo của ông (Koran 61, 10-12). Bằng bạo lực, Muhammad và những đồ đệ của mình đã đánh bại người ngoại giáo,
người Do Thái và những cộng đoàn Kitô Giáo, và vào năm 630, Muhammad đã khải hoàn tiến vào Mecca. Năm 632, trước khi chết, Muhammad xâm chiếm toàn bộ vùng Ả Rập.
Có những điểm khác biệt quan trọng giữa Đức Giêsu và Muhammad. Đức Giêsu tuyên bố Ngài là Con Thiên Chúa (xem 1.28), Ngài truyền bá sứ điệp mà không dùng đến chiến tranh, Ngài để cho chính bản thân mình bị giết chết để cứu độ nhân loại, và thậm chí Ngài còn cầu nguyện cho những kẻ thù của Ngài (xem Lc 23, 34; xem 4.43). Muhammad tuyên bố mình là một ngôn sứ với lệnh truyền đến từ Thiên Chúa phải truyền bá sứ điệp của mình bằng bạo lực (Koran 8, 60) và giết chết mọi kẻ thù của mình (Koran 8, 12. 15. 17). Muhammad chối bỏ Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng đã chết trên thập giá, và đã sống lại (xem 1.26).

# Sự bành trướng của Hồi Giáo
Sau cái chết của Muhammad, những chiến dịch của các chỉ huy người Hồi Giáo đã lấn át rất nhiều vùng Đông phương của Kitô Giáo. Họ cũng xâm chiếm phía Tây phương, đầu tiên là Tây Ban Nha, sau đó là
Pháp. Năm 732 vua Charles Martel đã đẩy lui được họ trong một trận chiến lớn ở Poitier (phía Tây
nước Pháp). Vào thế kỷ X, Hồi Giáo đã lan ra khắp Tây Nam Á, Bắc Phi, hầu hết Tây Ban Nha và đảo
Sicilia. Luật Hồi Giáo được áp dụng tại những vùng này. Năm 1453, người Hồi Giáo gốc Thổ Nhĩ Kỳ đã
chiếm được Constantinople, đặt lại tên cho thành phố này là Istanbul và biến nó thành thủ phủ của Đế
quốc Ottoman. Ở đỉnh cao này, Đế quốc Ottoman đã cai quản hầu hết Đông Nam của châu Âu. Cuối
cùng, chỉ đến năm 1653, họ đại bại tại cổng thành Vienna, thủ đô của Áo. Đế quốc Ottoman đã bị tan
rã sau Thế chiến I. Mặc dầu ở châu Âu, hầu hết các vùng thuộc Hồi Giáo trước đây đã trở lại với luật
Kitô Giáo, nhưng ở phía Đông Âu, Kitô Giáo hầu như hoàn toàn biến mất.

# Thánh chiến
Jihad hay còn gọi là thánh chiến chống lại những người không theo Hồi Giáo, là một bổn phận của
người Hồi Giáo. Theo Kinh Koran, bạo lực có thể được sử dụng để chống lại những ai không phải là
người Hồi Giáo, để làm cho những kẻ đó phải tùng phục Đấng Allah (Koran 8, 59; 66, 9). Những người
Hồi Giáo xem những Kitô hữu là “dân của cuốn sách”, nghĩa là Kinh Thánh. Vì người Hồi Giáo tôn trọng một số đoạn Kinh Thánh và coi Đức Giêsu là một ngôn sứ, nên họ không luôn cưỡng ép các Kitô hữu phải cải đạo; tuy nhiên, Kitô hữu là công dân hạng hai, phải tuân theo luật Hồi Giáo. Họ phải đóng nhiều thứ thuế và phải chịu đựng những cấm đoán trong việc thực hành đức tin của mình (Koran 9, 29). Hiện nay, có nhiều người Hồi Giáo ủng hộ thánh chiến và có những người Hồi Giáo muốn sống trong bình an với những người không thực hành tôn giáo của họ. Là Kitô hữu, chúng ta phải làm mọi điều có thể để sống hoà bình với mọi người bất kể tôn giáo của họ là gì. Các vị giáo hoàng gần đây đã và đang kêu mời những nhà lãnh đạo chính trị ở khắp mọi nơi phải bảo đảm quyền tự do tôn giáo cho hết thảy mọi người, mọi tôn giáo. Đồng thời, các ngài cũng nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc truyền bá đức tin Kitô Giáo cách hoà bình, như Đức Giêsu đã truyền lệnh cho Hội Thánh (xem Mc 16, 15, xem 4.50).

 

Những trinh nữ và những cột trụ chính của Hồi Giáo
Theo Hồi Giáo, mọi người sẽ bị Đấng Allah xét xử vào thời sau hết. Những ai sống công bình sẽ được vào nơi cực lạc, nơi vui thích cả thân xác lẫn tinh thần, ở nơi đó, họ sẽ nằm trên những chiếc ghế dài, ăn những món hảo hạng, và được những người trẻ đẹp hay những trinh nữ hầu bàn. Những người xấu xa sẽ xuống hỏa ngục. Hồi Giáo có 5 cách thực hành chính, còn gọi là “5 trụ cột”. Bao gồm việc tuyên xưng đức tin (Ishahadah), cầu nguyện 5 lần một ngày (salat), bố thí (zakat), ăn chay suốt tháng Ramadan (sawm) và hành hương đến Thánh địa Mecca (hajj). Cầu nguyện ngày thứ sáu tại Đền thờ Hồi Giáo là một điều bắt buộc, trong đó kèm theo là một bài giảng dài của giáo sĩ Hồi Giáo; những lời giảng của vị này được cho là vô cùng quan trọng.