4.35 Nhân bản vô tính là gì?

 4.35 Nhân bản vô tính là gì?

Nhân bản vô tính là sự sao chép một sinh vật sống – thực vật, động vật, hoặc con người. Quy trình nhân bản vô tính tạo ra một bản sao giống hệt về mã di truyền của sinh vật ban đầu. Tuy nhiên, khi một con người đã được nhân bản vô tính và được phép lớn lên, sẽ có những nhân tố khác làm cho người được nhân bản này trở thành một cá thể độc nhất. Các cặp song sinh cùng trứng có cùng DNA và là hai người khác nhau! Có hai cách để nhân bản vô tính:

  • Một phôi có thể được tách đôi trong phòng thí nghiệm (như xảy ra cách tự nhiên với cặp song sinh cùng trứng).
  • Với sự chuyển đổi nhân của tế bào soma (xem hình), nhân của tế bào trứng được thay thế bằng nhân của tế bào từ cơ thể được nhân bản (“bố/ mẹ”). Sau một số điều trị nhất định, tế bào mới sẽ hoạt động giống như một tế bào thụ tinh và bắt đầu phát triển tương tự như quá trình phân chia hợp tử sau thụ tinh.

# Sinh sản vô tính

Mục đích của sinh sản vô tính là tạo ra một bản sao của một con vật hoặc một con người. Năm 1996, cừu Dolly được nhân bản bằng chuyển hạt nhân tế bào soma. Chẳng bao lâu sau các động vật khác cũng được nhân bản vô tính. Những con vật này thường bị dị dạng, tàn tật, và các vấn đề sức khoẻ trầm trọng, và chúng thường chết sớm. Điều đó cho thấy rằng phương pháp này không phải đơn giản như nó có vẻ. Sau khi thay thế nhân tế bào soma, phôi thai được cấy vào tử cung của một người mẹ mang thai hộ, nơi nó tiếp tục phát triển cho đến khi được sinh ra. Cho đến nay những nỗ lực nhân bản vô tính ở người vẫn chưa thành công, và phương pháp này bị coi là bất hợp pháp ở nhiều nước.

# Điều trị bằng nhân bản vô tính

Mục đích của điều trị bằng nhân bản vô tính là tạo ra tế bào người để sửa lại các mô bị hư hỏng hoặc chữa một số bệnh nhất định. Đầu tiên, một con người được nhân bản như đã mô tả ở trên.

Một khi phôi người đã phát triển đến khoảng 100 tế bào, các tế bào gốc của nó sẽ được lấy ra, và tất nhiên là phôi sẽ chết theo. Sau đó, các tế bào gốc này được chuyển sang bệnh nhân hoặc được sử dụng để nuôi thành các mô cần thiết để điều trị cho bệnh nhân (xem 4.36).

# Tốt hơn là không làm

Việc nhân bản động vật có thể được chấp nhận miễn là nó được thực hiện để giúp con người và không gây tổn hại không cần thiết đối với các động vật có liên quan (xem 4.48). Tuy nhiên, nhân bản con người là hoàn toàn sai. Một bản sao con người là một con người đầy đủ và xứng đáng được đối xử như họ là; chứ không phải là phương tiện để chữa bệnh cho người khác (xem 4.19).

Ngoài ra, trong trường hợp sinh sản vô tính, mối quan hệ bình thường giữa tình dục và sinh sản của con người là hoàn toàn vắng mặt (xem 4.20). Cũng có nguy cơ rằng nhân bản vô tính có thể được sử dụng để tạo ra một loại, chủng loại hoặc một chủng tộc người. Nói tóm lại, Hội Thánh dứt khoát bác bỏ tất cả các loại nhân bản con người.

Ai có đến tám cha mẹ?

Với nhân bản vô tính con người, tất cả DNA là từ một người duy nhất, trong khi một phôi bình thường là một hỗn hợp của hai bộ DNA từ cha và mẹ. Điều này đặt ra mọi loại câu hỏi. Đối với người “gốc”, người mà DNA được nhân bản thực sự không phải là cha hay mẹ, mà là anh hoặc chị. Trên thực tế, có 8 người có thể khẳng định danh hiệu cha mẹ, hoặc thậm chí là chủ sở hữu của bản sao: người là nguồn gốc của DNA, cha hoặc mẹ của người cho nhân bản DNA, nguồn trứng, người mẹ mang thai hộ, cha hoặc mẹ nuôi của người được nhân bản, và “người cha” đã làm quá trình nhân bản trong phòng thí nghiệm.

  • Đọc thêm:
    Sản xuất phôi thai: GLHTCG 2275

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *