1.13 Kinh Thánh đã được viết bằng ngôn ngữ nào?

 1.13 Kinh Thánh đã được viết bằng ngôn ngữ nào?

1.13 Kinh Thánh đã được viết bằng ngôn ngữ nào?

Hầu hết các sách trong Cựu Ước được viết bằng tiếng Do Thái, đó là ngôn ngữ của người Israen, vào khoảng giữa năm 1200 đến 100 B.C.

Ngôn ngữ này có bảng chữ cái gồm 22 kí tự chứ không giống bảng chữ cái của chúng ta, và được viết từ phải sang trái. Hãy xem Thánh Vịnh 119: mỗi đoạn có liên quan tới một kí tự trong bảng chữ cái này. Chỉ có phụ âm được viết ra nên tiếng Do Thái rất khó dịch. Chẳng hạn những chữ viết tắt trong tin nhắn hoặc trong Tweet có thể mang một ý nghĩa khác với những nguyên âm khác nhau giữa các mẫu tự khác. Tương tự như vậy, một từ trong Kinh Thánh có thể được diễn giải thành những ý hoàn toàn khác nhau về Thiên Chúa. Vì vậy mà đôi khi cũng thật khó để dịch một cách chính xác.

Nhưng đồng thời nó cũng giúp ta không ngừng suy ngẫm về Thiên Chúa bằng những cách mới mẻ. Vì quả thật ngôn ngữ loài người sẽ không bao giờ có thể diễn tả hết về Thiên Chúa (xem 1.20).

Tiếng Do Thái là ngôn ngữ thánh thiêng của người Do Thái. Nhưng từ thế kỷVI B.C trở đi, người Do Thái cũng bắt đầu sử dụng những ngôn ngữ khác trong đời thường, chẳng hạn tiếng Aram. Vào thời Đức Giêsu sinh ra, tiếng Aram là ngôn ngữ phổ biến của người Do Thái. Sau này cũng có vài phần của Cựu Ước được viết bằng tiếng Aram (Er 4, 8-6. 18; 7, 12-26; Dn 2, 4-7. 28). Bản văn bằng tiếng Aram trông giống tiếng Do Thái nhưng thật ra nó là ngôn ngữ riêng biệt.

# Thế giới ngôn ngữ cổ

Khi việc sử dụng tiếng Do Thái suy giảm, thì tiếng Hy Lạp ngày càng trở nên phổ biến. Do đó trong khoảng những năm từ năm 300 đến năm 100 B.C., một số phần của Cựu Ước được dịch sang tiếng Hy Lạp. Bản dịch toàn bộ Cựu Ước sang tiếng Hy Lạp đầu tiên là Bản Bảy Mươi (xem 1.16). Tiếng Hy Lạp dần dần trở thành ngôn ngữ thế giới, giống như tiếng Anh ngày nay. Kết quả là toàn bộ Tân Ước được viết bằng tiếng Hy Lạp (như trong vài bản văn Cựu Ướcxem 1.15).

Mặc dù ngôn ngữ mẹ đẻ của Đức Giêsu là tiếng Aram và Ngài học tiếng Do Thái trong hội đường nhưng rất có thể Ngài cũng nói tiếng Hy Lạp. Vì sau khi người La Mã đánh bại người Hy Lạp và thống lãnh đất đai của họ, tiếng Hy Lạp vẫn là ngôn ngữ phổ biến giữa những người thuộc đế quốc La Mã chứ không phải tiếng La tinh (ngôn ngữ của người La Mã), tiếng La tinh chỉ là ngôn ngữ hành chính và pháp đình. Đó là lýdo Thánh Phaolô viết bằng tiếng Hy Lạp, ngay cả những lá thư viết cho tín hữu ở Rôma, thủ đô của Đế quốc La Mã.

# Nhưng vẫn còn một sốtiếng Aram

Trong bản văn Hy Lạp của Tân Ước, chúng ta vẫn thấy một số từ ngữ Aram. Ví dụ, một vài từ Đức Giêsu đã nói: “Talitha cumi” (“Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!”) (Mc 5, 41), “Ephatha” (“hãy mở ra!”) (Mc 7, 34), và “Eloi, Eloi, lama sabachthani?” (“Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”) (Mc 15, 34). Các bản văn cũng có những từ ngữ Aram mang tính cá vị như “Abba” (“Lạy cha”) (Gl 4, 6) và“Maranatha” (“Lạy Chúa, xin hãy đến”) (1Cr 16, 22).

# Tiếng La tinh cho mọi người

Vào thế kỷthứ IV A.D., tiếng La tinh ngày càng trở nên quan trọng như một ngôn ngữ chung. Qua lời yêu cầu của Đức Thánh Cha, Thánh Giêrônimô đã dịch toàn bộ Kinh Thánh sang tiếng La tinh. Bản Phổ Thông (Vulgata)này vẫn rất có giá trị cho đến ngày nay. Thánh Giêrônimô đã viết về Kinh Thánh cho người tập sự của mình là Thánh Eustochium như sau: “Con hãy đọc thường xuyên và học hỏi bao nhiêu có thể. Hãy để ngay cả đến khi ngủ mà quyển sách vẫn còn trên tay và hãy để trang sách thánh cuốn hút cái đầu yếu đuối của con” (Thư 22.17).

 

Cựu Ước: 46 cuốn

Hầu hết các sách Cựu Ước được viết bằng tiếng Do Thái từ những năm 1200 đến năm 100 B.C. Dưới đây là một ví dụ của tiếng Do Thái:

היֶחְאֶ רשֶֹאֲ היֶחְאֶ

“Ta là Đấng Ta là” (Xh 3, 14; xem 1.24)

Tân Ước: 27 cuốn

Các sách Tân Ước hầu hết được viết bằng tiếng Hy Lạp từ giữa những năm 50 đến năm 70. Dưới đây là một ví dụ của tiếng Hy Lạp:

Ἐν ἀρχ ν ὁ λόγoς

“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời” (Ga 1, 1; xem 1.29)

Đọc thêm

Các sách trong Kinh Thánh:GLHTCG 120; TYGLHTCG 20; YOUCAT 16. Cựu Ước:GLHTCG 121-123; TYGLHTCG 21; YOUCAT 17.

Tân Ước:GLHTCG 124-127, 139; TYGLHTCG 22; YOUCAT 18.